Google+

Chè VietGAP – Hướng phát triển bền vững

Nguyễn Thị Minh Phượng  

Chè VietGAP (thực hành SX nông nghiệp tốt) là sản phẩm chè an toàn, có quy trình SX nghiêm ngặt từ khâu chăm sóc, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Việc phát triển các mô hình chè VietGAP đang được các nhà quản lý, người tiêu dùng và người trồng đặc biệt quan tâm.

Là xã nằm trong vùng trọng điểm SX chè của huyện Trấn Yên, Bảo Hưng có tổng diện tích chè gần 300 ha, trong đó có hơn 200 ha đang trong thời kỳ kinh doanh. Từ bao đời nay, cây chè luôn gắn bó mật thiết với người nông dân và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ trong xã.

Xác định cây chè là cây công nghiệp mũi nhọn, nên Đảng bộ và chính quyền xã Bảo Hưng luôn tích cực vận động nhân dân trồng thay thế diện tích chè trung du già cỗi chất lượng thấp bằng các giống chè chất lượng cao như Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, chè lai LDT1… nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm chè.

Năm 2010, Dự án Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học tỉnh Yên Bái (QSEAP) bắt đầu triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển vùng SX chè an toàn trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 – 2015, định hướng đến năm 2020, các vùng SX chè tập trung trên địa bàn tỉnh đã được lấy mẫu đất, nước… để phân tích các chỉ tiêu về kim loại nặng, các chất gây ô nhiễm trong ngưỡng đảm bảo phù hợp với trồng chè.

Bảo Hưng cũng là 1 trong 4 điểm của tỉnh được Dự án QSEAP lựa chọn để xây dựng mô hình SX chè an toàn theo VietGAP sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố để phát triển SX chè theo hướng an toàn.

15-00-58_IMG_3794
SX chè VietGAP đảm bảo ATVSTP ở Yên Bái

Tham gia mô hình, các hộ dân được hỗ trợ giống chè mới, chất lượng cao để thay thế dần diện tích chè già cỗi, năng suất thấp; được tham gia các lớp tập huấn hướng dẫn quy trình trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến và bảo quản chè theo tiêu chuẩn VietGAP…

Đồng thời, các hộ phải tuân thủ, đáp ứng các yêu cầu đề ra như thường xuyên cập nhật sổ sách, ghi chép theo dõi tình hình SX việc tuân thủ các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường… Hiện nay, mô hình SX chè an toàn theo VietGAP của xã Bảo Hưng đã hình thành 6 nhóm hộ với sự tham gia của 165 hộ dân có tổng diện tích 78,3 ha.

Để đảm bảo tính khách quan và duy trì hoạt động được thường xuyên của nhóm hộ, thành viên các nhóm đã tổ chức thống nhất bàn bạc, soạn thảo ra các quy chế giám sát cộng đồng, đã phát huy được tính tự chủ của mỗi hộ dân trong quá trình SX.

Sau gần 3 năm thực hiện, Dự án QSEAP đã góp phần thay đổi rõ rệt nhận thức của mỗi hộ dân, mang lại những hiệu quả tích cực, sản lượng cũng như chất lượng chè và thu nhập của người dân đã được nâng lên đáng kể so với trước đây.

Anh Hà Văn Đông, thôn Trực Thanh, xã Bảo Hưng, một trong những hộ tham gia mô hình chia sẻ: “Từ khi được tham gia mô hình SX chè an toàn do Dự án QSEAP triển khai, gia đình tôi đã dần thay thế diện tích chè trung du bằng các giống chè cành mới như Bát Tiên, LDP1… cộng với việc áp dụng những kiến thức đã được học tôi thấy năng suất cao mà lại tiết kiệm được chi phí về phân bón và thuốc BVTV. Trước đây, năng suất chè khô chỉ đạt từ 5 – 7 kg/sào, giờ đạt tới 10 - 12 kg/sào”.

Sau một thời gian SX theo tiêu chuẩn mới, người dân đã thấy rõ lợi ích khi tham gia mô hình như giá chè tăng, môi trường trong sạch, an toàn hơn nên các hộ tham gia mô hình đều yên tâm SX và đã vận động được các hộ trong thôn làm theo.

Ông Phạm Ngọc Uý, thôn Trực Thanh, xã Bảo Hưng là một trong những hộ trồng chè lâu năm, với hơn 8.000 m2 chè của gia đình. Trước đây khi áp dụng hình thức canh tác và SX chè theo phương thức cổ truyền, năng suất chè của gia đình không cao, việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học chưa hợp lý nên không những ảnh hưởng đến chất lượng chè thành phẩm mà còn ảnh hưởng đến môi trường.

Sau khi tham gia các lớp tập huấn của Dự án, ông đã biết tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp như rơm, rạ… để ủ thành phân vi sinh bón cho cây trồng, sử dụng phân hóa học một cách hợp lý và khoa học. Đặc biệt, gia đình ông đã biết áp dụng kỹ thuật vào SX chè qua đông nên hiệu quả kinh tế rất cao. Với hơn 8.000 m2 diện tích thì mỗi năm gia đình ông cũng thu được từ 1 – 1,2 tấn chè khô, với giá bán trung bình 150.000 đ/kg sau khi trừ đi mọi chi phí cũng cho thu lãi hơn 100 triệu đồng.

Việc áp dụng các kiến thức trong SX chè an toàn theo VietGAP đã dần dần giúp người dân thay đổi những hình thức canh tác lạc hậu, biết áp dụng những tiến bộ trong SX vào thực tế, biết ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ các mối nguy cơ ô nhiễm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, môi trường, sức khỏe…

Ông Lại Thế Hùng, Giám đốc Dự án QSEAP cho biết: “Dự án QSEAP được triển khai từ năm 2010, đến nay chúng tôi đã thực hiện chuyển đổi được gần 2.000 ha diện tích chè trung du già cỗi năng suất thấp sang các giống chè mới chất lượng cao. Xã Bảo Hưng là một trong bốn điểm triển khai xây dựng mô hình SX chè an toàn theo VietGAP của Dự án.

Hiện nay, chúng tôi đã hoàn tất các thủ tục để cấp giấy chứng nhận SX chè an toàn cho một số hộ dân tiêu biểu, làm tốt việc áp dụng các kỹ thuật SX VIetGAP của thôn Trực Thanh, xã Bảo Hưng và tiến tới xây dựng thương hiệu chè an toàn.

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là đường xá đi lại giữa khu SX chè an toàn với các chợ đầu mối. Dự kiến năm 2014 chúng tôi sẽ đầu tư xây dựng một nhà xưởng SX chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm với công suất 3 tấn chè tươi/ngày tại xã Bảo Hưng”.

Với mục đích đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng và môi trường sống, có thể khẳng định việc nhân rộng các mô hình SX chè theo tiêu chuẩn VietGAP là hướng đi đúng, đã, đang và sẽ đem lại những lợi ích thiết thực về nhiều mặt. Đây cũng là một hướng đi đúng đắn đảm bảo cho cây chè Yên Bái phát triển một cách bền vững

Nguồn: “Báo Nông nghiệp Việt Nam”

Bón phân cho chè thường dùng các loại NPK có hàm lượng đạm cao như: Cá Sấu NPK 30-9-9+1,5MgO+T.E, Cá Sấu NPK 24-6-10+T.E…

Speak Your Mind

*