Google+

Hương trà xứ bazan

Chiều xuân yên ả. Tôi thung thăng trên miền đất đỏ bazan Lâm Đồng. Hương chè thoảng bay trong gió, điệp trùng màu xanh của những nương chè phủ khắp núi đồi, mênh mang đến bất tận… Những cây chè hồn nhiên ngậm sương, đón nắng; chắt chiu tơ trời, nhụy đất để tích hương, góp thêm vị cho cuộc sống con người.

Không phải ngẫu nhiên mà người Pháp đã chọn vùng đất Nam Tây Nguyên để “gieo những mầm chè”, tạo nên hương vị trà đậm chất xứ đất đỏ bazan. Khí hậu và thổ nhưỡng ở vùng cao nguyên này rất thuận lợi để cây chè đâm chồi, nảy lộc. Nghiệp trà ở Lâm Ðồng khởi nguồn từ những thập niên đầu thế kỷ trước, và gắn bó với đông đảo người dân ở vùng đất này đến mãi hôm nay…

images969726_H6a

 Xanh ngát nương chè B’Lao.

PHÁC HỌA XỨ TRÀ

Chiều buông nắng. Tôi tìm về nơi khởi nguồn nghề trà trên vùng đất Nam Tây Nguyên. Ngày xưa, nơi đây gọi là Sở trà Cầu Ðất do người Pháp lập ra năm 1927. Còn bây giờ, trên miền đất ấy là nơi đóng chân của Công ty cổ phần chè Cầu Ðất, nằm cách trung tâm thành phố Ðà Lạt khoảng 22km về phía Ðông Nam. 

Ở Lâm Ðồng, nếu gọi B’Lao là “thủ đô chè” thì Cầu Ðất có thể coi là “nguồn cội chè”. Tại nhà máy chế biến trà gần 100 năm tuổi này vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn dàn máy sản xuất chè theo kỹ thuật cơ khí hồi đầu thế kỷ trước. Ðây là dây chuyền sản xuất chè đen của Pháp gồm sáu cỗ máy được coi là cổ nhất Ðông Dương hiện nay. 

Trải qua biết bao thăng trầm của nghiệp trà, giờ đây luồng sinh khí mới đã thổi vào “nguồn cội” xứ trà trên cao nguyên Lâm Ðồng. Vẫn giữ lại “dàn máy lịch sử” của nghiệp trà trên xứ sở này để phục vụ khách tham quan, công ty đầu tư dây chuyền sản xuất mới, có công suất đủ lớn để chế biến khoảng 250 hecta nguyên liệu chè chất lượng cao, cung cấp cho thị trường xuất khẩu và nội địa.

Từ vùng Cầu Ðất, cùng với quá trình phát triển và nhu cầu khai thác đất đai, nhân công bản xứ của người Pháp mà cây chè đã “nảy mầm” ở vùng B’Lao, Di Linh theo lộ trình Ðà Lạt – Sài Gòn vào thập niên 30 thế kỷ trước. Chè bắt đầu bén rễ với đất B’Lao từ đồn điền của các ông chủ đến từ Tây Dương, như đồn điền Pôn-pe, Sô-ven, La-ruy, Fe-lit B’Lao, B’Lao Sierré… rồi sau đó là sự ra đời của các trang trại, các rẫy chè của hộ gia đình, như Năm Mậu, Huỳnh Hoa, Ngô Văn, Xu Tiên và cái tên Lê Minh Xanh được đặt cho con dốc ngay ngõ vào thành phố Bảo Lộc đến tận ngày nay… Từ đó, vùng đất bazan này đã hình thành một tầng lớp cư dân gắn với “nghiệp trà hương”, với thương hiệu được nhiều danh trà “khai sinh” tự nhiên: Hương trà B’Lao! Ðó chính là khởi nguồn của thương hiệu “Trà B’Lao” được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận vào cuối năm 2009.

Thương hiệu Trà B’Lao được xác nhận đối với bốn sản phẩm, gồm trà xanh ướp hương, trà xanh, trà đen chế biến và trà ôlong. Như vậy, ngoài tên gọi của cơ sở sản xuất, những danh trà này đều dùng thêm chữ “trà B’Lao” trên bao bì sản phẩm – cho dù danh trà của họ có nổi tiếng đến mấy, như danh trà Ðỗ Hữu, Trâm Anh, Tâm Châu hay Rồng Vàng, Phương Nam, Ngọc Bảo… “Nếu không gắn dòng chữ B’Lao vào bao bì sản phẩm, thì thương hiệu mất đi sự cuốn hút” – nhiều danh trà thổ lộ như thế. Ðó có lẽ là sự quyện hòa giữa con người, xứ sở và sản phẩm ra đời trên miền đất ngát hương ấy. 

Cây chè phôi thai ở Lâm Ðồng từ năm 1927, do các doanh gia người Pháp trồng và khai thác. Trước 1975, diện tích chè ở đây khoảng năm ngàn hecta. Giờ đây, Lâm Ðồng là tỉnh có vùng chè tập trung lớn nhất Việt Nam, với trên 24 ngàn hecta, chiếm trên 20% diện tích chè cả nước và 90% diện tích toàn vùng phía Nam; được mệnh danh là “Thủ phủ trà Việt Nam”. 

NGHIỆP TRÀ

Theo dòng chảy lịch sử, nghiệp trà trên đất Lâm Ðồng cũng đi qua thời gian thăng trầm. Song, nó vẫn sinh sôi nảy nở, bám lấy số phận con người trên vùng đất Nam Tây Nguyên. Như câu nói chứa chan của “Bà Chúa trà hương” Ðỗ Thị Ngọc Sâm, chủ danh trà Ðỗ Hữu: Ðất trà, đất quý. Không theo nghề trà uổng lắm!

Bảo Lộc đã đánh thức tôi mỗi lần ngang qua phố bởi mùi hương dịu êm, gần gũi của trà B’Lao, để được thung thăng với những nương chè trải dài mải miết… Về với xứ trà B’Lao, tôi gặp “Bà chúa trà hương”, người sáng chế sản phẩm trà hương đầu tiên ở B’Lao cách đây hơn nửa thế kỷ. Ðã gần 90 tuổi, nhưng ký ức về những ngày đầu lập nghiệp trên vùng đất B’Lao của cụ vẫn vẹn nguyên. Với chất Huế trong trẻo cụ kể: Năm 1950, tôi từ Huế vào B’Lao lập nghiệp, thuở ấy nơi đây còn hoang vắng lắm, đầu tiên tôi đi làm phu tại các đồn điền chè của người Pháp. Hằng ngày, tôi lén giấu vài hạt chè vào “gô” cơm mang về. Ðược hạt nào ươm hạt nấy, đến khi vườn trà ra đọt, đủ sống qua ngày thì không đi làm thuê cho Pháp nữa.

Nghiệp trà ướp hương đến với cụ Sâm thật tình cờ. Trong một lần uống trà, anh trai bà ngẫu hứng hái bông hường vi thả vào tách trà, uống thấy thơm ngon nên bảo bà ướp thử. “Mang sản phẩm mời nhiều người uống ai cũng thích, từ đó tôi chú tâm nghiên cứu thêm nhiều hương vị khác, như trà hương sói, hương lài, hương sen…” – cụ Sâm cho biết. Năm 1956, danh trà Ðỗ Hữu chính thức có mặt trên thị trường với biểu tượng chim bồ câu trắng. Theo cụ Sâm, đó là biểu tượng mong ước hòa bình nổi danh đến ngày nay. Giờ đây, đối với cụ, làm trà dường như không còn ý nghĩa bán mua, mà là trao gửi cho nhau những món quà văn hóa tao nhã xứ B’Lao.

Ông Vũ Hùng Anh (63 tuổi), chủ danh trà Trâm Anh, Bảo Lộc thổ lộ, tuổi thơ của ông gắn liền với những sáng tinh sương theo ông ngoại lên những đồi chè ngút ngàn, tít tắp từ chân đèo Bảo Lộc đến tận huyện Di Linh. Bản thân ông là một trong những người gắn bó với nghiệp trà từ rất sớm trên xứ trà B’lao. Còn gia đình ông thì có bốn đời keo sơn với nghề trà. Ông là đời thứ ba nối nghiệp trà của ông ngoại với thương hiệu Chín Phương, đến đời bố xây dựng thương hiệu Vạn Xuân… Nay, con gái ông tiếp nối nghiệp trà và tiếp tục “vun vén” thương hiệu trà Trâm Anh. 

Tiếp nối nghiệp trà, nhiều nông hộ ở Lâm Ðồng đã chuyển hướng sang trồng chè, nhiều doanh trà mới lần lượt ra đời, như Phương Nam, Bình Ðông, Hoàng Thiên, Hoa Sen… Khác với chế biến trà thủ công – “trà bồ” ngày xưa, nay công nghệ ướp hương trà đã được nâng lên một bậc, nhiều cơ sở, doanh nghiệp trà đã đầu tư trang thiết bị hiện đại để mở rộng thị trường, đưa hương trà B’Lao ngày một lan xa.

Doanh nghiệp trà, nông dân trà… cái nghiệp trà trên xứ Nam Tây Nguyên cứ bám lấy họ, với 5,5 vạn lao động phục vụ ngành chè. Nhiều người bỏ phố vào rừng mà làm nên cơ nghiệp.

images969729_H6b

 Chế biến trà hương (DNTN trà Thiên Thành, Bảo Lộc).

HƯƠNG TRÀ LAN XA…

Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng sản phẩm trà trên xứ bazan Lâm Ðồng đã tỏa hương ở nhiều thị trường trên thế giới, như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Trung Ðông… Bí thư Thành ủy Bảo Lộc Lê Hoàng Phụng cho biết: Người dân B’Lao xem cây chè là điều kiện sinh kế của họ. Hương trà B’Lao sẽ còn lan xa hơn, nếu con người của xứ này mãi chung thủy với cây chè.

Trong suốt chiều dài lịch sử, cây chè luôn hiện diện, gắn bó trong đời sống của người dân đất Việt. Ðời của mỗi người rồi sẽ qua, nhưng trên miền đất bazan Nam Tây Nguyên này, có lẽ… nghiệp trà vẫn trường tồn mãi mãi.

MAI VĂN BẢO

Nguồn: “Báo Lâm Đồng”

Chè giai đoạn kinh doanh nên bón theo tỉ lệ N:P:K là 3:1:1 có thể bón cá Sấu NPK 30-9-9+1,5MgO+T.E…

Speak Your Mind

*

' .