Google+

Ngành chè Yên Bái trên đà tăng trưởng

CTTĐT – Từ bao đời nay, người dân Yên Bái vẫn tự hào vì Yên Bái là tỉnh có diện tích chè lớn nhất nhì cả nước với trên 11.200ha. Và dù trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm nhưng diện tích chè vẫn được duy trì, mở rộng, sản lượng và chất lượng chè ngày càng nâng cao. Chè – Cây chủ lực trong phát triển kinh tế đã và đang khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế của tỉnh và dành được chỗ đứng trên thị trường.

ta xua tram tau
Người dân bản Tà Xùa, xã Bản Công, huyện Trạm Tấu thu hái chè xuân

Năm 2013 khép lại với nhiều điểm sáng đáng ghi nhận đối với ngành chè Yên Bái. Đó là sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong tổ chức quản lý, chỉ đạo việc quy hoạch và phát triển vùng chè, các chính sách phát triển nông lâm nghiệp đã kịp thời hỗ trợ, khuyến khích người trồng chè. Từ đó đã tạo chuyển biến cơ bản về nhận thức của nông dân và doanh nghiệp chè trong việc tăng diện tích trồng mới, tăng sản lượng, năng suất, chất lượng sản phẩm chè chế biến. Năm 2013, sản lượng chè búp tươi thu hái được trên 91 nghìn tấn, chế biến được trên 20 nghìn tấn chè khô các loại. Con số này dù vượt không nhiều so với kế hoạch đề ra, song cũng là những cố gắng nỗ lực không nhỏ của toàn tỉnh trong việc duy trì, phát triển cây chè.

Có thể nói rằng chè là cây chủ lực trong phát triển kinh tế của tỉnh bởi gần 30 vạn dân toàn tỉnh hiện vẫn sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong đó trồng chè là chính, đặc biệt là ở những huyện như Văn Chấn, Yên Bình, Trấn Yên. Năm 2013, giá thu mua chè búp tươi cao hơn so với năm 2012 10%, thu nhập người làm chè được cải thiện, góp phần ổn định đời sống và tác động tích cực để nông dân đầu tư chăm sóc và phát triển vùng nguyên liệu. Sản phẩm chè làm ra trong năm đã được tiêu thụ hết, không bị ứ đọng. Các cơ quan chức năng đã tập trung quản lý các cơ sở chế biến chè, kiểm tra chặt chẽ công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong khâu chế biến, đẩy mạnh xúc tiến thương mại góp phần tích cực trong nâng cao chất lượng thành phẩm và tiêu thụ chè.

Xác định cây chè là loại cây chủ lực trong kinh tế nông nghiệp địa phương, những năm qua, tỉnh Yên Bái đã tập trung đầu tư cải tạo và mở rộng diện tích, nâng cao công nghệ trồng, chế biến chè. Năm 2013, toàn tỉnh đã trồng thay thế 604ha chè, đạt 120% kế hoạch. Diện tích chè được thay thế là những giống chè có chất lượng cao như chè Shan, Bát Tiên, LDP1, LDP2, chè nhập nội Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, sau một thời gian thay thế, cải tạo, các giống chè mới phát triển tốt, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng khí hậu của địa phương và dự kiến cho năng suất gấp 3-4 lần so với giống chè cũ.

Năm 2013, các cơ sở chế biến chè được đầu tư quy mô và có chiều sâu hơn từ các quy trình chế biến đến khâu tiêu thụ, đặc biệt là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp tăng chất lượng và nâng cao sản lượng chè. Nổi bật trong số đó là Công ty Cổ phần chè Nghĩa Lộ (thị xã Nghĩa Lộ), Công ty Cổ phần chè Liên Sơn (Văn Chấn), DNTN chế biến và kinh doanh chè Bình Thuận (Văn Chấn), Công ty TNHH Phương Tuấn (thành phố Yên Bái)… Các doanh nghiệp, các cơ sở chế biến đã có sự gắn kết với nông dân vùng chè đã tạo ra sức mạnh trong sản xuất, kinh doanh, chế biến chè.

Đặc biệt là kể từ khi nhãn hiệu chè Suối Giàng được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Suối Giàng – Văn Chấn (văn bằng bảo hộ thương hiệu), đã giúp thương hiệu chè Suối Giàng lấy lại uy tín trên thị trường trong và ngoài nước, các tổ chức, cá nhân có điều kiện phát triển sản xuất, chế biến, kinh doanh chè Suối Giàng đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông – lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Đến thời điểm hiện tại, đã có 2 đơn vị được cấp phép sử dụng nhãn hiệu Suối Giàng – Yên Bái cho sản phẩm chè của xã Suối Giàng là Nhà máy chè Suối Giàng thuộc Công ty TNHH Đức Thiện và Hợp tác xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn. Thêm vào đó, cuối năm 2013, Đoàn cán bộ Hội đồng tỉnh Val-de-marne (Cộng hòa Pháp) và nhóm chuyên gia nghiên cứu hỗ trợ ngành chè thương mại bình đẳng vừa qua đã đến Yên Bái nghiên cứu thành lập ngạch thương mại cho sản phẩm chè Suối Giàng tỉnh Yên Bái. Đây quả là một tín hiệu vui cho ngành chè Yên Bái được vươn ra thế giới.

Cùng với đó là sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự đồng lòng của người dân, trong việc triển khai thực hiện Dự án Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học tỉnh Yên Bái (QSEAP) đã góp phần thay đổi rõ rệt nhận thức của mỗi hộ dân, những người làm chè. Trong năm 2013, đã thành lập Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm cây trồng thuộc Dự án QSEAP và hiện đang thực hiện thí điểm nâng cao công các quản lý an toàn thực phẩm trên cây chè tại 4 xã thuộc huyện Trấn Yên và huyện Văn Chấn. Hướng dẫn người dân thực hành sản xuất chè an toàn, đã đánh giá chứng nhận được 1.291ha (với 2.334 hộ của 70 nhóm hộ) sản xuất chè theo an toàn tiêu chuẩn Vietgap. Sản lượng và chất lượng chè cũng như thu nhập của người dân đã được nâng lên đáng kể so với trước đây. Người trồng chè đã dần lấy lại niềm tin vào cây chè.

Năm 2014, mục tiêu của tỉnh là trồng cải tạo 500ha chè cũ bằng giống tiến bộ kỹ thuật, năng suất, chất lượng tốt, phấn đấu sản lượng chè búp tươi đạt trên 85.000 tấn. Để đạt được mục tiêu này, theo ông Phạm Văn Lái – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hiệp hội chè Yên Bái, ngành chè cần quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, đa dạng hoá sản phẩm; Tập trung vào chăm sóc, thâm canh diện tích chè hiện có để tăng năng suất, năng cao chất lượng chè búp tươi, cung cấp nguyên liệu tốt cho chế biến. Đồng thời tiếp tục đổi mới công nghệ chế biến và bảo quản sản phẩm, tạo sản phẩm có chất lượng tốt để tăng giá trị của sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường; Hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức đăng ký chứng nhận sản phẩm, tiếp tục khai thác thế mạnh chè Suối Giàng. Điều cốt yếu là cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định, tăng thu nhập cho người trồng chè.

Nhìn lại một năm ngành chè, dù còn một số tồn tại nhất định như nhiều cơ sở chế biến xây dựng không theo quy hoạch, công nghệ lạc hậu sản phẩm, sản phẩm chất lượng chưa cao nên giá trị thấp, nhiều doanh nghiệp và người trồng chè còn chạy theo lợi nhuận trong khâu trồng và chế biến chè, song với những phương hướng cụ thể đã đề ra, với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, địa phương, cùng với sự đồng lòng của doanh nghiệp và người trồng chè, tin tưởng rằng ngành chè Yên Bái sẽ đạt được mục tiêu 2014.

Xuân đã về trên những nóc nhà tràn ngập tiếng cười, trên những cành đào, cành mơ khoe sắc thắm. Xuân đã về trên những luống chè xanh ngát sau 1 năm thu hái đang được người dân chăm sóc… hứa hẹn vụ chè xuân mới.

Hiền Trang

Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Bón phân cho chè thường dùng các loại NPK có hàm lượng đạm cao như: Cá Sấu NPK 30-9-9+1,5MgO+T.E, Cá Sấu NPK 24-6-10+T.E…

 

Speak Your Mind

*

' .